HOTLINE 016 79 88 3333

Download báo cáo – cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2012

Sự thực hiện quyết liệt chính sách bình ổn kinh tế của các nhà lãnh đạo Việt Nam đã giúp môi trường kinh tế vĩ mô tránh được một nguy cơ khủng hoảng. ViệtNam bước vào năm 2011 với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô, bao gồm lạm phát tăng nhanh ở mức cao, tỷ giá biến động mạnh, dự trữ ngoại hối sụt giảm, mức rủi ro tín dụng quốc gia gia tăng sau sự đổ vỡ của một trong những doanh nghiệp nhà nước hàng đầu, thâm hụt ngân sách và nhập siêu ở mức cao cũng như các bất cập trong khu vực doanh nghiệp cũng như tài chính, ngân hàng. Trong mười hai tháng vừa qua, các diễn biến bất lợi trên đ. dần được cải thiện, giúp Việt Nam bước đầu có được một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn. Mặc dù vẫn còn đó những rủi ro bất trắc trong tương lai, song điều chắc chắn là Nghị quyết 11 – với những biện pháp bình ổn kinh tế và đảm bảo an sinh, ổn định xã hội – đã giúp ngăn chặn nguy cơ bất ổn định kinh tế và khôi phục lại niềm tin vào khả năng điều hành vĩ mô của Chính phủ.

ii. Nếu như môi trường kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2010-2011 xấu đi rất nhanh, th. tốc độ cải thiện t.nh h.nh trong 12 tháng vừa qua cũng không kém phần nhanh chóng. Lạm phát (so với cùng kỳ) đ. giảm trong chín tháng liên tiếp – từ đỉnh điểm 23% hồi tháng 8/2011 xuống c.n 8,3% vào tháng 5/2012. Thâm hụt cán cân v.ng lai ước tính đ. giảm xuống c.n 0,5% GDP trong năm 2011, từ mức 4,1% năm 2010 và đặc biệt so với mức cao điểm là 11,9% GDP vào năm 2008. Tỉ giá hối đoái không chính thức dao động trong biên độ ±1 phần trăm so với tỉ giá chính thức trong gần hết cả năm. Nguồn đô la Mỹ dồi dào trên thị trường giúp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường dự trữ ngoại hối trong những tháng đầu năm 2012, hiện ước tính vào khoảng 9 tuần nhập khẩu. Tốc độ tăng trưởng tín dụng đ. giảm mạnh từ 32,4% vào cuối năm 2010 xuống c.n 14,3% vào cuối năm 2011. Thâm hụt ngân sách (theo tiêu chí GFS) ước tính đ. giảm xuống c.n 2,7 phần trăm GDP trong năm 2011 từ mức cao điểm 7,2 phần trăm GDP năm 2009.

iii. Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô có giá của nó nhưng không ổn định kinh tế có thể sẽ dẫn tới tổn thất cao hơn.Tăng trưởng GDP đ. giảm từ 6,8 phần trăm trong năm 2010 xuống c.n 5,9 phần trăm trong năm 2011, và tiếp tục giảm xuống mức 4 phần tram trong qu. một 2012 — khi t.nh trạng giá cả tăng cao đ. làm giảm cầu trong nước, ảnh hưởng đến nhiều ngành như xây dựng, sản xuất và công ích. Sản xuất công nghiệp chậm lại, lượng tồn kho các mặt hàng chế biến chủ chốt tăng lên. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đóng cửa, giải thể hoặc tạm thời ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nỗ lực b.nh ổn kinh tế có thể gây sụt giảm kinh tế theo chu kỳ nhưng xu hướng suy giảm kinh tế trong vòng 5-6 năm trở lại đây chủ yếu là kết quả của quá tr.nh cải cách cơ cấu chậm trễ. Hiệu quả yếu kém của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và đầu tư công đang là nguyên nhân tác động tiêu cực đến tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.

iv. Khi những thành quả của quá tr.nh ổn định kinh tế vĩ mô mới chỉ ở bước đầu và c.n khá mong manh, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế bên ngoài c.n nhiều bất trắc, Chính phủ nên có những bước đi thận trọng tránh điều chỉnh nới lỏng chính sách quá sớm. Với mục tiêu tang cầu trong nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đ. giảm l.i suất chính sách 300 điểm cơ bản (ba điểm phần trăm) chỉ trong v.ng hơn tám tuần qua. Trong điều kiện lạm phát giảm nhanh và tang trưởng tín dụng âm trong bốn tháng đầu năm th. các quyết định giảm l.i suất như vậy có thể là có cơ sở. Tương tự, Nghị quyết 13 của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc gia hạn thời gian nộp thuế và giảm phí thuê đất khi ước tính tác động tài khóa của các biện pháp này chưa đến 0,5 phần trăm GDP. Tuy nhiên, với kinh nghiệm đ. từng nới lỏng chính sách quá sớm trong quá khứ th. cũng có nhiều l. do để Chính phủ cẩn trọng. Thứ nhất, với độ trễ giữa chính sách và kết quả dự kiến thường từ ba đến bốn tháng, tác động của nới lỏng chính sách có thể tạo thêm tăng trưởng nhưng cũng sẽ kéo theo lạm phát trở lại vào cuối qu. 3 năm nay. Thứ hai, khi nợ công đ. tới ngưỡng th. dư địa cho chính sách tài khóa trong năm nay sẽ không c.n nhiều so với bối cảnh năm 2009. Cuối cùng, t.nh trạng thiếu hiệu quả kéo dài của nhiều doanh nghiệp nhà nước và yếu kém của hệ thống ngân hàng th. các biện pháp kích thích kinh tế vô h.nh chung sẽ lại là nguồn nuôi dưỡng mô h.nh tăng trưởng kém hiệu quả, đi ngược lại mong muốn của Chính phủ trong kế hoạch tái cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh.

v. Thực hiện một chương tr.nh tái cơ cấu đáng tin cậy – bao gồm các cải cách cơ cấu sâu rộng và bền vững sẽ tạo ra chất xúc tác tốt nhất cho nền kinh tế. Trong tháng Mười năm 2011, Chính phủ thông báo chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, đầu tư công và khu vực tài chính. Hiện nay kế hoạch cải cách cho từng lĩnh vực này đ. có. Ví dụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang xây dựng kế hoạch tái cơ cấu đầu tư công trong đó có việc soạn thảo một Nghị định về lập kế hoạch đầu tư trung hạn, dự thảo một khung luật mới về đầu tư công, và một luật về quy hoạch. Báo cáo của Ban Chỉ đạo về Đổi mới và Phát

Download Báo cáo chi tiết tại:

http://www.mediafire.com/?1w1jr3tk2raythe

Pass: trongveo.com